1. Do Thai Binh
  2. Luật & Công ước quốc tế
  3. Thứ bảy, 23 Tháng 6 2012
  4.  Subscribe via email
Hướng dẫn quốc tế về an toàn tàu dầu và các terminal dầu tiếng Anh viết tắt là ISGOTT là một tài liệu quan trọng,đã được xuất bản ,sửa đi sửa lại tới lần thứ 5.Chúng ta có thể đọc tại đây :
-Tiếng Anh http://www.hising.com.cn/upload/ISGOTT第五版.pdf
-Tiếng Trung http://www.docin.com/p-190013187.html
-Tiếng Nga http://www.scribd.com/doc/65088256/Isgott-5-Russian
Khi chuyển ISGOTT sang tiếng Việt,một khó khăn là tìm thuật ngữ Việt tương đương .Chúng tôi áp dụng các phương pháp sau:
1/Xu thế hội nhập đã đưa nhiều thuật ngữ Anh vào trong ngôn ngữ các nước ví như người Nga đã đưa ngay các chữ diving,terminal,check list …vào trong thuật ngữ của mình.Vì thế chúng tôi cũng dùng các thuật ngữ terminal,check list,manifold ,permit, trong cuốn ISGOTT này,cụ thể như sau :
-terminal thường hiểu là bến dầu ,và trong bản dịch ISGOTT lần thứ tư ,người TQ cũng vẫn còn gọi là you matou tức bến dầu (油码头) nhưng nhận thấy các bất hợp lý của nó khi nó không phản ánh được tính bao quát hơn của terminal nên trong bản ISGOTT Trung văn lần thứ năm,người TQ đặt ra một từ mới là zhongduan zhan tức Chung đoan trạm (终端站) với chung là kết thúc,là chung kết ,lâm chung (chết) và đoan là có hai đầu tức Trạm kết thúc tại hai đầu,gần phản ánh terminal cả tại cầu tàu lẫn ngoài khơi buộc phao SBM.Vậy thì tốt nhất là ta dùng ngay terminal như người Nga viết là терминал nều không muốn dùng Hán Việt là Trạm chung đoan !!!
-manifold là một chi tiết kỹ thuật phổ biến ,nhiều khi tiếng Việt dùng là cụm gom,ống góp …,tốt nhất giữ nguyên tiếng Anh cho gọn
-permit là cho phép .Hệ permit làm việc trên tàu đã được ta dùng từ lâu.tốt nhất gọi luôn permit cho gọn
….
2/Đặt ra các thuật ngữ mới,nghe có vẻ Hán Việt nhưng thực ra là dùng một chút Hán với kiểu Việt nam ,giống như chữ “xạ trị” trong y học hiện nay (chữ này do ta đặt ra ,người TQ không gọi như vậy với việc điều trị ung thư bằng phóng xạ) .Đó là trường hợp các thuật ngữ này trong ISGOTT như :
-“near miss “ được chuyển thành “cận nguy”
-“gas free” được chuyển thành “trừ khí “ hay “diệt khí “ .Đó là một thao tác xả thông thoáng cho hết khí ,nếu nói thế qúa dài nhất là trong các tổ hợp từ như “gas free cetificate “ được chuyển thành “chứng chỉ diệt khí “ một chứng chỉ của tàu cũng giống như chứng chỉ diệt chuột !Người TQ cũng gọi là chuqi 除 气 tức là trừ khí
-“surge pressure”được chuyển thành “sốc áp suất” ,trong khi người Anh không gọi là pressure shock !
3/Dùng các từ thuần Việt diễn tả một số khái niệm ,ví dụ
-Purging khí là một việc dùng khí trơ để đuổi các khí còn lại ra ngoài ,ISGOTT Trung văn bản thứ 5 gọi là qu qi khu khí (驱 气) với khu là đuồi như ta vẫn dùng chữ khu trục hạm .Có ba phương án lựa chọn gọi purging là “đuổi khí “ hay “xúc xổ khí “ hay “tẩy khí” (giống như xổ giun,tẩy giun !) ví dụ purging pump “bơm tẩy khí”
Hiện nay có một số thuật ngữ khó diễn tả ,mặc dù nó được sử dụng rộng rãi không chỉ trong dầu khí,đặc biệt là trong ngành điện như :
-intrinsically safe ,vì nói dài dòng nên chúng tôi gọi ngắn gọn là phải đạt chuẩn IS ,tức là dấu Ex .Trong thao tác hàng ngày ,ai cũng biết !
-bonding khó diễn tả trong một cụm từ ,để tạo thành một thuật ngữ khi đi kèm !
-topping –up ,topping –off
Mong ý kiến của các bạn
Comment
There are no comments made yet.
steamaway Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Chào bác Bình,

Tôi làm trong ngành OIL & GAS nên quen thuộc với ISGOTT. Đôi khi chúng tôi phải chuyển ngữ một số thuật ngữ tiếng anh khi làm việc với người Việt. Ý kiến của tôi như sau:

-terminal thường hiểu là bến dầu ,và trong bản dịch ISGOTT lần thứ tư ,người TQ cũng vẫn còn gọi là you matou tức bến dầu (油码头) nhưng nhận thấy các bất hợp lý của nó khi nó không phản ánh được tính bao quát hơn của terminal nên trong bản ISGOTT Trung văn lần thứ năm,người TQ đặt ra một từ mới là zhongduan zhan tức Chung đoan trạm (终端站) với chung là kết thúc,là chung kết ,lâm chung (chết) và đoan là có hai đầu tức Trạm kết thúc tại hai đầu,gần phản ánh terminal cả tại cầu tàu lẫn ngoài khơi buộc phao SBM.Vậy thì tốt nhất là ta dùng ngay terminal như người Nga viết là терминал nều không muốn dùng Hán Việt là Trạm chung đoan !!!


Terminal (hàng hải) được hiểu là các khu kho chứa, tập kết hàng bulk (lỏng hoặc rắn), hàng chứa trong container với điều kiện phải có bến cảng dùng để xếp dỡ những loại hàng đó từ những tàu chở chúng. Một OIL (hoặc GAS) TERMINAL bao gồm hệ thống các bồn chứa cùng với đường ống dẫn từ các bồn bể tới các JETTY để giao hoặc nhận hàng là oils cho hoặc từ tàu thông qua các hệ thống tiếp nhận (RECEIVING FACILITY)

-manifold là một chi tiết kỹ thuật phổ biến ,nhiều khi tiếng Việt dùng là cụm gom,ống góp …,tốt nhất giữ nguyên tiếng Anh cho gọn
Từ này nếu dịch ra tiếng Việt cũng không có vấn đề gì. Đó là Ống Góp
-permit là cho phép .Hệ permit làm việc trên tàu đã được ta dùng từ lâu.tốt nhất gọi luôn permit cho gọn
Permit trong ngữ cảnh mà bác ngụ ý là ở cụm từ WORK PERMIT hay PERMIT TO WORK. Cụm thuật ngữ này đã được sử dụng trong ngành OIL & GAS từ rất lâu trước khi nó được áp dụng ở dưới tàu. Cũng có thể có tên tiếng Việt là GIẤY PHÉP LÀM VIỆC.
….

-“near miss “ được chuyển thành “cận nguy”
Cụm từ này là một thuật ngữ trong ngành an toàn. Tập đoàn Shell cũng như Chuyên ngành HSE (Health Safety Environment) của Anh quốc định nghĩa NEAR MISS như sau: ANY INCIDENT (UNPLANNED EVENT) WHICH HAS NOT RESULTED IN HARMFUL CONSEQUENCE (E.G. INJURY OR DAMAGE ETC...) Tức là NHỮNG TAI NẠN (SỰ KIỆN KHÔNG LƯỜNG TRƯỚC) MÀ NÓ KHÔNG GÂY RA CÁC HẬU QUẢ CÓ HẠI (NHƯ THƯƠNG VONG HAY THIỆT HẠI TÀI SẢN, DANH TIẾNG...). Nói cách khác, NEAR MISS đã là một tai nạn rồi nhưng nó chưa gây hại gì cho con người và máy móc. Do đó "CẬN NGUY" nghe chưa ổn bằng "CẬN NGUY HIỂM" bởi NGUY có thể hiểu là NGUY CƠ trong khi một INCIDENT TAI NẠN đã hơn là một NGUY CƠ rồi, tức là MỘT NGUY CƠ đã biến thành THỰC TẾ rồi.

-“gas free” được chuyển thành “trừ khí “ hay “diệt khí “ .Đó là một thao tác xả thông thoáng cho hết khí ,nếu nói thế qúa dài nhất là trong các tổ hợp từ như “gas free cetificate “ được chuyển thành “chứng chỉ diệt khí “ một chứng chỉ của tàu cũng giống như chứng chỉ diệt chuột !Người TQ cũng gọi là chuqi 除 气 tức là trừ khí
"GAS" đề cập ở đây là các chất khí dễ cháy (inflammable) hoặc các chất khí đọc (toxic gas). Trong các không gian kín khi muốn vào làm việc bên trong thì phải có biện pháp thông gió hoặc bất kỳ biện pháp nào khác làm giảm nồng độ của các chất khí nói trên về THRESHOLD hoặc triệt tiêu hẳn. Việc làm như vậy được gọi là GAS FREE. Tôi sẽ dịch là "ĐUỔI KHÍ", "GIẤY CHỨNG NHẬN ĐUỔI KHÍ"

-“surge pressure”được chuyển thành “sốc áp suất” ,trong khi người Anh không gọi là pressure shock !
Dịch là "sốc áp suất" chưa ổn. "Pressure surge" nói về sự thăng giáng áp suất trong một hệ thống có các chất khí hoặc lỏng lưu chuyển. Trong hệ thống tăng áp khí xả của động cơ diesel, hiện tượng này luôn luôn tồn tại. Tuy nhiên nếu biên độ thăng giáng lớn sẽ ảnh hưởng tới sự làm việc ổn định của động cơ. "PRESSURE SHOCK" đại diện cho trạng thái biến thiên áp suất nặng nề hơn và rất đột ngột. Áp suất có thể tăng và gấp vài ba lần áp suất công tác sau đó giảm trong một thời gian rất ngắn. Do đó hai khái niệm này về bản chất hơi khác nhau một chút. "PRESSURE SHOCK" dịch là SỐC ÁP SUẤT thì OK nhưng PRESSURE SUGRE cũng dịch như vậy thì chưa ổn. Tôi sẽ dịch là DAO ĐỘNG ÁP SUẤT.
3/Dùng các từ thuần Việt diễn tả một số khái niệm ,ví dụ
-Purging khí là một việc dùng khí trơ để đuổi các khí còn lại ra ngoài ,ISGOTT Trung văn bản thứ 5 gọi là qu qi khu khí (驱 气) với khu là đuồi như ta vẫn dùng chữ khu trục hạm .Có ba phương án lựa chọn gọi purging là “đuổi khí “ hay “xúc xổ khí “ hay “tẩy khí” (giống như xổ giun,tẩy giun !) ví dụ purging pump “bơm tẩy khí”
PURGING cũng là cách GAS FREEING, tức là dùng một công chất (khí trơ hoặc nước) để thay thế các chất khí dễ cháy và độc trong một không gian kín.
-intrinsically safe ,vì nói dài dòng nên chúng tôi gọi ngắn gọn là phải đạt chuẩn IS ,tức là dấu Ex .Trong thao tác hàng ngày ,ai cũng biết !
Tiêu chuẩn ngành công nghiệp dầu khí có quy định các thiết bị điện, điện tử dùng trong các khu vực nguy hiểm về cháy nổ (Hazardous zones) phải là các thiết bị được chế tạo sao cho tuyệt đối an toàn, không thể là nguồn gây cháy. Thảo mãn một số yêu cầu đặc biệt nào đó sẽ được gọi là intrinsically safe mà viết tắt là Ex. Theo đó tôi dịch là AN TOÀN CHÁY NỔ.
-bonding khó diễn tả trong một cụm từ ,để tạo thành một thuật ngữ khi đi kèm !
Từ này với ngữ cảnh đề cập là LÀM CHO THÔNG MẠCH TĨNH ĐIỆN. Gọi ngắn gọn là THÔNG MẠCH. Mục đích BONDING là triệt tiêu chênh lệch điện áp tĩnh điện giữa các thiết bị, các hệ thống...ví dụ khi nhận dầu từ tàu lên bờ và ngược lại.
-topping –up ,topping –off
Đơn giản là BƠM ĐẦY và LÀM VƠI
Trên đây là một số ý kiến của tôi.
Comment
There are no comments made yet.
Do Thai Binh Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn bạn Steamaway.-Nếu phải gas free sau đó purging thì nói thế nào cho gọn nếu cả hai đều là đuổi khí ?
-việc stripping trên tàu dầu nên diễn tả là vét ? Trong các cụm từ stripping line ,stripping tank
Comment
There are no comments made yet.
steamaway Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn bạn Steamaway.-Nếu phải gas free sau đó purging thì nói thế nào cho gọn nếu cả hai đều là đuổi khí ?


CHÀO BÁC BÌNH:

Gas freeing có nghĩa là làm sạch khí (cháy nổ, độc hại). Gas freeing certificate là giấy CN làm sạch khí. Gas purging là động tác đuổi khí cháy, khí độc hại bằng một công chất, ví dụ như Ni-tơ, nước...Purging xong tức là đã gas freed. Về mặt ngữ nghĩa, Purging là đuổi trong khi gas freeing muốn thể hiện việc "đuổi" đã xong.
-việc stripping trên tàu dầu nên diễn tả là vét ? Trong các cụm từ stripping line ,stripping tank
Bác nói đúng. Tripping là vét. Tuy nhiên cần hiểu stripping ở ngữ cảnh là người nhà tàu phải làm nghiêng tàu (deballasting) để sao cho có một độ chúi cần thiết, độ nghiêng ngang cần thiết để chất lỏng có trong một két hàng có thể dồn hết về hốc hút, giúp cho việc bơm hàng được sạch sẽ, để lượng OBQ (On Board Quantity) là ít nhất.

Do đó Stripping có nghĩa là VÉT (HÀNG)

Stripping line và stripping tank được dịch là đường ống được sử dụng để vét (kiệt hàng) và két dùng để chứa hàng dồn về khi làm stripping.
Comment
There are no comments made yet.
HaiAuVIN Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Chắc bác Steamaway gõ nhầm stripping thành tripping: stripping và tripping là hai từ khác nhau. Stripping có gốc từ động từ strip: vắt cạn, làm kiệt, còn tripping có gốc từ động từ trip: nhả, ngắt (máy), phát động (còi, alarm).
Comment
There are no comments made yet.
steamaway Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Chắc bác Steamaway gõ nhầm stripping thành tripping: stripping và tripping là hai từ khác nhau. Stripping có gốc từ động từ strip: vắt cạn, làm kiệt, còn tripping có gốc từ động từ trip: nhả, ngắt (máy), phát động (còi, alarm).


Đúng vậy. Cảm ơn Haiauvin đã góp ý. Tớ đã sửa lại từ đó.
Comment
There are no comments made yet.
Do Thai Binh Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn các bạn.Có những từ sau đây nên diễn tả ra sao:
-naked light
-top-off
-top-up
và cụm từ responsibilities and accountabilities trong các văn bản quản ly rủi ro mà chỉ chuyển thành trách nhiệm thì không đủ ?
Thân mến
Comment
There are no comments made yet.
steamaway Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn các bạn.Có những từ sau đây nên diễn tả ra sao:
-naked light
-top-off
-top-up
và cụm từ responsibilities and accountabilities trong các văn bản quản ly rủi ro mà chỉ chuyển thành trách nhiệm thì không đủ ?
Thân mến


Chào bác Bình,

Naked light được định nghĩa anh - anh là "open flame such as a match or burning cigarette". Trong ngành oil & gas, các loại đèn chiếu sáng không phải là loại explosion proof đều được coi là naked light. Dịch sang tiếng Việt nếu phải dịch thì là NGUỒN LỬA HỞ.
TOP-OFF: làm vơi đi. Khi một két dầu chứa đầy dầu, việc chứa đầy như vậy có thể gây ra các nguy cơ về tràn dầu qua lỗ thông hơi, qua van an toàn (nếu là pressuzised tank) khi nhiệt độ chất lỏng tăng hoặc do chuyển động lắc của chất lỏng chứa bên trong. Để tránh nguy cơ spill người ta sẽ phải giảm mức của chất lỏng trong két xuống tới mức an toàn.

TOP-UP: Động tác làm đầy (tới mức an toàn) khi bơm chuyển, khi nhận chất lỏng vào một két. Cho tới khi két "gần đầy" thì két được bơm với một lưu lượng nhất định nào đó mà khi két gần đầy rồi mà vẫn giữ lưu lượng bơm đó thì nguy cơ overfill sẽ cao. Do đó người ta sẽ phải giảm dần lưu lượng bơm theo một quy trình thống nhất trước đó.

Responsibility & Accountability: Trách nhiệm trực tiếp và trách nhiệm cuối cùng. Cho cùng một sự việc thì người being accountability sẽ phải chịu trách nhiệm cao hơn người to be responsibility.
Comment
There are no comments made yet.
Do Thai Binh Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn Bạn.Nhưng vấn đề không phải là giải thích mà đặt một từ gọn tương tự vì nó còn gắn với nhiều từ khác trong một câu !!!
Comment
There are no comments made yet.
HaiAuVIN Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn Bạn.Nhưng vấn đề không phải là giải thích mà đặt một từ gọn tương tự vì nó còn gắn với nhiều từ khác trong một câu !!!


Vậy thì theo tôi nghĩ nên trích dẫn cả đoạn văn chứa từ trên thì mới rõ được văn cảnh để lựa chọn từ thích hợp hơn.
Comment
There are no comments made yet.
Do Thai Binh Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn Hải Âu và Steamaway .Trang 18,section 2.3.9.2 ISGOTT viết :
“The main hazard associated with inert gas is its low oxygen content.
However, inert gas produced by combustion, either in a steam raising
boiler or in a separate inert gas generator (flue gas), will contain trace
amounts of various toxic gases that may increase the hazard to
personnel exposed to it.”
Tôi nghĩ là họ có nhầm lẫn vì flue gas mới là sản phẩm của đốt nồi hơi (và tại sao lại có steam raising?) cho nên tôi sửa và chuyển ngữ sang tiếng Việt như sau :
“Nguy hiểm chính với khí trơ chính là hàm lượng oxy thấp.Ngoài ra, khí trơ sinh ra từ sự đốt cháy ,hoặc là từ khí lò trong khi đốt nồi hơi hoặc là từ máy sinh khí trơ riêng rẽ có thể có chứa các vệt khí độc hại khác làm tăng nguy cơ với người bị phơi nhiễm”.Có bạn nào biết hệ IGS hiện nay có trên tanker nào của Việt Nam,và nó thuộc loại flue gas từ boiler hay là generator độc lập .Vì cần biết thuật ngữ Việt nào tương đương với các bộ phận của IGS như deck water seal,scrubber tower.
Comment
There are no comments made yet.
Do Thai Binh Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Các bác đã đọc ISGOTT ,có thấy họ trình bày các dụng cụ đo khó hiểu quá .Mình đã làm dịch vụ các máy đo này hơn chục năm qua mà thấy họ viết rắc rối hơn ca ta lô của các nhà chế tạo.Lúc thi sa đà vào nguyên lý như bài giảng chuyên ngành cho người chế tạo với chuyên sâu cơ điện tử ,lúc thì dùng các câu ngắn gọn,nhiều cấu trúc không cần.Ví dụ ,nhắc tới sintered filter làm gì cho khó hiểu.Chỉ cần nói tới hai loại Explosimeter và Tankscope ,trong đó chỉ tankscope mới dùng được cho môi trường được làm trơ inerted .Cái tên non-catalytic heated filament indicator làm cho người đọc rối !!!!
Comment
There are no comments made yet.
steamaway Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn Bạn.Nhưng vấn đề không phải là giải thích mà đặt một từ gọn tương tự vì nó còn gắn với nhiều từ khác trong một câu !!!


Chào bác Bình,

Tôi đã sử dụng từ tiếng Việt tương đương rồi đấy. Một số thuật ngữ tiếng Anh khi chuyển sang tiếng Việt do mỗi một từ đó chứa cả một ngữ cảnh nên khi dịch sang tiếng Việt mà chỉ bằng 1 từ là rất khó. Ví dụ TOP UP, thuật ngữ naỳ hình thành trong ngành công nghiệp oil & gas và nội hàm của từ nói cho ta về các trình tự để sao cho việc overfilled được loại trừ như tôi đã giải thích trên kia. Từ tiếng Việt thì sẽ là LÀM ĐẦY và không còn là THUẬT NGỮ nữa và nghĩa của nó chỉ được hiểu đơn giản là LÀM ĐẦY mà thôi.

Còn về responsibility & accountability thì tôi đã dịch rồi - Trách nhiệm ban đầu và trách nhiệm cuối cùng.
Comment
There are no comments made yet.
steamaway Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn Hải Âu và Steamaway .Trang 18,section 2.3.9.2 ISGOTT viết :
“The main hazard associated with inert gas is its low oxygen content.
However, inert gas produced by combustion, either in a steam raising
boiler or in a separate inert gas generator (flue gas), will contain trace
amounts of various toxic gases that may increase the hazard to
personnel exposed to it.”
Tôi nghĩ là họ có nhầm lẫn vì flue gas mới là sản phẩm của đốt nồi hơi (và tại sao lại có steam raising?) cho nên tôi sửa và chuyển ngữ sang tiếng Việt như sau :
“Nguy hiểm chính với khí trơ chính là hàm lượng oxy thấp.Ngoài ra, khí trơ sinh ra từ sự đốt cháy ,hoặc là từ khí lò trong khi đốt nồi hơi hoặc là từ máy sinh khí trơ riêng rẽ có thể có chứa các vệt khí độc hại khác làm tăng nguy cơ với người bị phơi nhiễm”.Có bạn nào biết hệ IGS hiện nay có trên tanker nào của Việt Nam,và nó thuộc loại flue gas từ boiler hay là generator độc lập .Vì cần biết thuật ngữ Việt nào tương đương với các bộ phận của IGS như deck water seal,scrubber tower.


Chào bác Bình,

Bác cho tôi dịch lại sau đó xin giải thích một số thuật ngữ mà bác thắc mắc:
"Nguy hiểm chính từ khí trơ là hàm lượng ô-xy thấp. Tuy nhiên khi trơ sinh ra từ quá trình cháy nhiên liệu, hoặc trong các nồi hơi khí xả cũng như trong các thiết bị tạo khí trơ riêng biệt (khói lò) sẽ chứa một lượng nhỏ nhất định các khí độc mà chúng gây tăng mối nguy hiểm cho con người khi tiếp xúc với chúng.

Dưới đây mà một số giải thích:

1) Tôi không dịch "Expose" là phơi nhiễm bởi khi con người expose với một chất có hại nào đó thì anh ta có thể mới PHƠI và anh ta chỉ bị nhiễm khi mà anh ta PHƠI với 1) nồng độ; 2) thời gian vượt qua một ngưỡng nào đó tiếng anh gọi là THRESHOLD. Do đó tôi dịch từ này là "TIẾP XÚC".

2) FLUE GAS được sử dụng cho "Saperate Inert Gas Generator" trong đoạn văn này nhằm ngụ ý là chiếc máy sinh khi trơ đó là một loại máy đốt rác hoặc dầu cặn và khí xả từ đó được đưa xử lý tiếp theo để tạo thành khí trơ. Có vẻ trừ khí xả sinh từ tua bin khí xả và động cơ đốt trong thì tất cả các loại lò như lò đốt rác, lò sưởi trong các ngôi nhà cổ, nồi hơi đều thải ra loại...khí xả được gọi là FLUE GAS.

3) Steam rasing boiler là một tên gọi khác của các nồi hơi khí xả. Tại sao người ta gọi nó như vậy vì nó thường được bố trí ở vị trí trên cao so với máy chính. Ngoài ra tên gọi trên không gợi điều gì khó hiểu cả.

4. IGS: Bản thân flue gas hoặc exshaust gas đều chưa phải là Inert gas do bên trong nó còn chứa một thành phần ô xy và một số sản phẩm hydrocarbon chưa cháy hoặc chưa cháy hết. Để trở thành khí trơ người ta lại phải chế biến nó bằng cách loại bỏ các thành phần NON-INERTIAL này. Do đó, một nồi hơi, động cơ diesel hay một lò đốt độc lập dùng chỉ để cho mục đích tạo khí trơ CHƯA THỂ là một IGS được. Các thiết bị này chỉ là một bộ phận ban đầu của cả hệ thống sinh khí trơ. Do đó, cho dù khí trơ sinh từ đâu thì IGS vẫn nên gọi là HỆ THỐNG SINH KHÍ TRƠ.
Tôi nói như trên là chưa đủ cho một IGS vì còn chưa nói tới bộ phận phân phối khí trơ tới các điểm sử dụng nữa.

Về tàu dầu VN sử dụng loại nào và tên gọi các bộ phận là gì thì tôi không rành lắm.
Comment
There are no comments made yet.
Do Thai Binh Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn Bạn Steamaway !.Tôi tiếp thu được chữ expose ,
-còn về hệ IGS,có lẽ bạn xem sự phân loại của một vài nhà chế tạo,ví dụ của Cold Harbor ,thì khá rõ ,đó là Flue gas từ đốt nồi hơi và generator độc lập (http://www.coldharbourmarine.com/index.php/home/inert-gas-systems).Tôi vẫn cho là trong câu này của ISGOTT,người viết có gì nhầm lẫn khi mở ngoặc đơn chữ flue gas sau khi nói tới generator sinh khí trơ.Các chữ scrubber tower và deck water seal không rõ trong thực tế anh em gọi là gì
-về trình bày các gas detector ,không rõ bạn có thấy ISGOTT dài dòng với nguyên lý các máy với một văn phong không phải là plain English.Có nên rút gọn hơn để người đọc phải nhức đầu vì cái tên Catalic Filement Heat Indicator ??
Comment
There are no comments made yet.
steamaway Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn Bạn Steamaway !.Tôi tiếp thu được chữ expose ,
-còn về hệ IGS,có lẽ bạn xem sự phân loại của một vài nhà chế tạo,ví dụ của Cold Harbor ,thì khá rõ ,đó là Flue gas từ đốt nồi hơi và generator độc lập (http://www.coldharbourmarine.com/index.php/home/inert-gas-systems).Tôi vẫn cho là trong câu này của ISGOTT,người viết có gì nhầm lẫn khi mở ngoặc đơn chữ flue gas sau khi nói tới generator sinh khí trơ.
Thực tình tôi vẫn chưa rõ ý của bác là gì. Tuy nhiên có điểm tôi biết chắc rằng Flue gas là khí xả từ các lò đốt, nồi hơi. Ở dưới tàu dầu, flue gas là "nguyên liệu" để sản xuất "Inert gas".

Ở một số tàu, có thể yêu cầu về lưu lượng flue gas không đủ nên người ta lắp thêm Inert gas generator mà trong đó nhiên liệu được đốt để sinh ra khí xả, về phần mình, khí xả này sẽ được sử dụng làm "nguyên liệu" để sản xuất "inert gas" như đã nói.

Các chữ scrubber tower và deck water seal không rõ trong thực tế anh em gọi là gì
Tôi nghĩ bác nghiên cứu một hệ thống khí trơ thì sẽ biết chức năng của 2 hệ thống này để từ đó đặt tên tiếng Việt cho nó. Theo đường link sau bác sẽ biết được vai trò của hai thiết bị này: http://www.brighthub.com/engineering/marine/articles/15481.aspx#

Như vậy SCRUBBER TOWER sẽ có tên là THÁP LỌC KHÓI trong khi DECK WATER SEAL là THIẾT BỊ CHẮN KHÍ NGƯỢC. Do thiết bị này nằm thường được bố trí xuyên qua mặt boong (deck) của hầm hàng mà tên của nó có kèm theo khu vực mà nó được đặt (DECK)



về trình bày các gas detector ,không rõ bạn có thấy ISGOTT dài dòng với nguyên lý các máy với một văn phong không phải là plain English.Có nên rút gọn hơn để người đọc phải nhức đầu vì cái tên Catalic Filement Heat Indicator ??


Tôi không nghĩ họ dài dòng với cụm từ này. Ngược lại tôi thấy từ đó đã là cụm từ ngắn nhất để gọi tên một loại thiết bị đo. Có thể do thói quen tối giản của chúng ta nên làm cho chúng ta suy nghĩ như vậy chăng?
Comment
There are no comments made yet.
Nguyễn Ngọc Duyệt Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn các bạn.Có những từ sau đây nên diễn tả ra sao:
-naked light
-top-off
-top-up
và cụm từ responsibilities and accountabilities trong các văn bản quản ly rủi ro mà chỉ chuyển thành trách nhiệm thì không đủ ?
Thân mến


Chào bác Bình,

Naked light được định nghĩa anh - anh là "open flame such as a match or burning cigarette". Trong ngành oil & gas, các loại đèn chiếu sáng không phải là loại explosion proof đều được coi là naked light. Dịch sang tiếng Việt nếu phải dịch thì là NGUỒN LỬA HỞ.
TOP-OFF: làm vơi đi. Khi một két dầu chứa đầy dầu, việc chứa đầy như vậy có thể gây ra các nguy cơ về tràn dầu qua lỗ thông hơi, qua van an toàn (nếu là pressuzised tank) khi nhiệt độ chất lỏng tăng hoặc do chuyển động lắc của chất lỏng chứa bên trong. Để tránh nguy cơ spill người ta sẽ phải giảm mức của chất lỏng trong két xuống tới mức an toàn.

TOP-UP: Động tác làm đầy (tới mức an toàn) khi bơm chuyển, khi nhận chất lỏng vào một két. Cho tới khi két "gần đầy" thì két được bơm với một lưu lượng nhất định nào đó mà khi két gần đầy rồi mà vẫn giữ lưu lượng bơm đó thì nguy cơ overfill sẽ cao. Do đó người ta sẽ phải giảm dần lưu lượng bơm theo một quy trình thống nhất trước đó.

Responsibility & Accountability: Trách nhiệm trực tiếp và trách nhiệm cuối cùng. Cho cùng một sự việc thì người being accountability sẽ phải chịu trách nhiệm cao hơn người to be responsibility.


Chào các anh!

Thấy topic này đã lâu không biết mọi người còn thảo luận không nhưng cũng xin góp vài ý kiến:

TOP-OFF: khi được dùng trong nghiệp vụ tanker và terminal thì hầu như chỉ có 1 nghĩa là " giai đoạn kết thúc nhận hàng" cho 1 hầm hàng. Theo định nghĩa của ISGOTT là: "hoạt động kết thúc việc nhận hàng vào 1 hầm theo 1 độ vơi/ độ cao định trước". Trong Cargo Loading Plan của tanker luôn bao gồm 02 giai đoạn nhận hàng (Loading stages) là Inital stage và Topping-off stage ( Giai đoạn bắt đầu và giai đoạn kết thúc). Kèm theo đó là các khái niệm như là "Inital loading rate, Topping-off rate" v.v... ( Tốc độ bơm hàng cho phép ở các giai đoạn). Ở giai đoạn topping-off này người vận hành phải điều chỉnh tốc độ bơm hàng, đóng mở van phù hợp để đảm bảo lượng hàng trong két đúng với khối lượng đã định.

TOP-UP: thuật ngữ này trong tàu dầu và kho cảng luôn đi kèm với khái niệm khí trơ " Inert gas". Theo định nghĩa rất rõ ràng của ISGOTT là " động tác đưa khí trơ vào trong hầm phía trên bề mặt hàng để tạo môi trường "trơ" và duy trì áp suất dương trong trong hầm đảm bảo cho không khí không thể rò lọt vào".

Như vậy theo em thì giải thích của bác Steamaway là chưa chính xác/ chưa phù hợp với tinh thần của ISGOTT.

NAKED LIGHT: thuật ngữ này dịch đơn giản và phổ biến nhất là " LỬA TRẦN "
Comment
There are no comments made yet.
Do Thai Binh Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn các bạn đã góp ý.Hiện nay,toàn bộ bản dịch đã hoàn tất.Tôi xin gửi kèm phần mở đầu để các bạn góp ý kiến
Đỗ Thái Bình

Qua mục lục nội dung,các bạn cũng hình dung được chúng tôi chuyển ngữ sang tiếng Việt như thế nào
Comment
There are no comments made yet.
Do Thai Binh Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Và cuốn Từ điển Hàng Hải Anh Việt (Samaser xuất bản) từ năm 1998 tới nay đã in lại 6 lần ,và được dùng rộng rãi.Chúng tôi đang tổ chức biên soạn lại,với số trang in gần 1000,nhiều hình minh họa,và cập nhật,phản ảnh tiếng Anh hàng hải thế kỷ 21 với AIS,LRIT,BNWAS...!!!Mong các bạn góp ý
Đỗ Thái Bình
Comment
There are no comments made yet.
steamaway Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo


Chào các anh!

Thấy topic này đã lâu không biết mọi người còn thảo luận không nhưng cũng xin góp vài ý kiến:

TOP-OFF: khi được dùng trong nghiệp vụ tanker và terminal thì hầu như chỉ có 1 nghĩa là " giai đoạn kết thúc nhận hàng" cho 1 hầm hàng. Theo định nghĩa của ISGOTT là: "hoạt động kết thúc việc nhận hàng vào 1 hầm theo 1 độ vơi/ độ cao định trước". Trong Cargo Loading Plan của tanker luôn bao gồm 02 giai đoạn nhận hàng (Loading stages) là Inital stage và Topping-off stage ( Giai đoạn bắt đầu và giai đoạn kết thúc). Kèm theo đó là các khái niệm như là "Inital loading rate, Topping-off rate" v.v... ( Tốc độ bơm hàng cho phép ở các giai đoạn). Ở giai đoạn topping-off này người vận hành phải điều chỉnh tốc độ bơm hàng, đóng mở van phù hợp để đảm bảo lượng hàng trong két đúng với khối lượng đã định.

TOP-UP: thuật ngữ này trong tàu dầu và kho cảng luôn đi kèm với khái niệm khí trơ " Inert gas". Theo định nghĩa rất rõ ràng của ISGOTT là " động tác đưa khí trơ vào trong hầm phía trên bề mặt hàng để tạo môi trường "trơ" và duy trì áp suất dương trong trong hầm đảm bảo cho không khí không thể rò lọt vào".

Như vậy theo em thì giải thích của bác Steamaway là chưa chính xác/ chưa phù hợp với tinh thần của ISGOTT.
"


Chào bạn clieduyet:

Trên kia tôi có mô tả quá trình Top up như sau:
TOP-UP: Động tác làm đầy (tới mức an toàn) khi bơm chuyển, khi nhận chất lỏng vào một két. Cho tới khi két "gần đầy" thì két được bơm với một lưu lượng nhất định nào đó mà khi két gần đầy rồi mà vẫn giữ lưu lượng bơm đó thì nguy cơ overfill sẽ cao. Do đó người ta sẽ phải giảm dần lưu lượng bơm theo một quy trình thống nhất trước đó.

Nếu chỉ nói như bạn thì sự hiểu khá đơn giản. Lưu ý trong công tác nhận hàng thì giai đoạn cuối này thường là giai đoạn dễ gây over-fill nhiều nhất và trong thực tế overfill chủ yếu xảy ra ở giai đoạn top-up này. Vì lẽ đó TOP-UP đã được đề cập tới không chỉ là một thuật ngữ, một định nghĩa mà nó được diễn dịch thành một quá trình. Việc các phương tiện tàu bè cũng như các kho chứa phải có KẾ HOẠCH GIAO NHẬN DẦU là yêu cầu bắt buộc trong đó quy định rõ khi gần kết thúc nhận vào một két (TOP-UP) thì sẽ phải tiến hành làm gì, theo trình tự nghiêm ngặt abcd gì...là thể hiện sự chú trọng tới và thúc đẩy sự an toàn và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường của IMO cũng như của các tổ chức The International Chamber of Shipping (ICS), the Oil Companies International Marine Forum (OCIMF) và the International Association of Ports and Harbors IAPH là các tổ chức đồng đẻ ra ISGOTT.

Về giải thích của tôi ở trên tôi nhấn mạnh khía cạnh an toàn của quy trình. Tất cả nội dung của ISGOTT toát lên điều gì liệu bạn có biết? Mục tiêu của việc biên soạn tài liệu đó là nhằm làm gì? Hay nói "theo cách của bạn" tinh thần của ISGOTT là gì vậy nếu không phải là mục tiêu an toàn?
Comment
There are no comments made yet.
Do Thai Binh Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cám ơn các bạn tham gia bàn luận.Vấn đề là chọn một từ Việt tương đương,vì khi gặp từ top-up...ta phải dùng một từ Việt khác nếu không muốn nói là dùng luôn "top-up" ,sau khi đã giải thích top-up tại mục định nghĩa.Và nếu cuốn ISGOTT thật sự quan trọng,chúng tôi sẽ tổ chức cho nó ra đời ra sao,sau khi đã làm các thủ tục copyright với OCIMF....Nếu các bạn quan tâm,chúng tôi sẽ gủi toàn bộ bản chuyển ngữ sang tiếng Việt để các bạn tham khảo.Theo ý chúng tôi,bản ISGOTT thứ năm có một số chỗ dài dòng,ví dụ nói về các loại trạm foam quá dài,dùng nhiều thuật ngữ hóa học,khó khăn với các bạn đọc hàng hải dầu khí chỉ là người sử dụng.Cái đó để giành cho những người làm công tác PCC chuyên nghiệp .Và các loại đầu báo cháy cũng vậy.Cuốn sách sa đà vào các loại dây,loại ống ,viết khá kỹ.Với tay đòn làm hàng dầu (metal arm) hình như chưa được dùng tại Việt Nam ,chúng tôi có thêm một số dòng giải thích ,nhất là thiết bị nhả khớp tự động.Về phong cách,cuốn sách được viết bởi các tác giả châu Âu,Anh Quốc (?) nên có khác với phong cách Mỹ,mặc dù muốn "thực dụng",muốn là những quy trình mẫu nhưng vẫn sa vào cách giải thích mang tính hàn lâm academic .Làm thế nào để bạn đọc Việt dùng được,hiểu được là mong muốn của chúng tôi chứ không phải là một cách dịch mot-a-mot thiếu sinh khí và sai lệch ý định của các tác giả. Cho nên tôi muốn gọi là một bản chuyển ngữ sang tiếng Việt,sau khi tham khảo bản tiếng Trung và Nga ,tôi muốn đưa vào một số thuật ngữ như diệt khí cho Gas free,tẩy khí cho gas purging
Comment
There are no comments made yet.
  • Page :
  • 1
  • 2


There are no replies made for this post yet.
However, you are not allowed to reply to this post.