1. Nguyễn Bá Dũng
  2. Vận hành & Bảo dưỡng
  3. Thứ sáu, 25 Tháng 11 2011
  4.  Subscribe via email
bác nào đã từng đi 2/E thì có thể chia sẻ với em không?
thường thì thực tế dưới tàu khi nào thiếu điện cần phải hoà?
Comment
There are no comments made yet.
Hoàng xuân trường Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
§4.3; Làm việc song song các máy phát .
4.3.1;Khái quát chung.
Trên tầu thuỷ công suất tiêu thụ điện lớn so với công suất trạm phát, tải toàn tầu không ổn định (phụ thuộc từng chế độ làm việc của tầu ). Mặt khác để nâng cao độ tin cậy của trạm phát thường bố trí ít nhất hai trạm phát điện để tăng tính kinh tế khi khai thác năng lượng điện. Do vậy trên tầu thuỷ thường thường các máy phát phải làm việc song song.
- Ý nghiã của làm việc song song các máy phát điện:
+ Sẽ đảm bảo cung cấp năng lượng điện cho mọi chế độ hoạt động của tầu, có thể ngắt một hay một số máy khi ít tải.
+ Có khả năng khởi động được các động cơ dị bộ có công suất lớn so với công suất của máy phát .
+ Có khả năng phục hồi điện áp nhanh.
+ Khi chuyển từ máy này sang máy kia không sẩy ra hiện tượng ngắt điện ( Nguồn trên thanh cái lúc nào cũng có điện).
+ Giảm được trọng lượng của các thiết bị phân phối.
- Yêu cầu của các máy phát khi làm việc song song :
+ Cung cấp đầy đủ năng lượng điện cho mọi chế độ hoạt động của tầu.
+ Các máy phát phải làm việc ổn định với phạm vi thay đổi tải lớn.
+ Quá trình phân phối tải giữa các máy phát phải đều nhau.
+ Giá trị dòng cân bằng phải bé nhất (lý tưởng bằng không)
ICB = ( đối với máy phát xoay chiều thì coi như r = 0 ).
4.3.2;Điều kiện hòa đồng bộ các máy phát xoay chiều.
Điều kiện để hòa đồng bộ là điện áp tức thời của máy phát bằng điện áp tức thời của lưới. Giả sử điện áp tức thời của thanh cái là:

và điện áp tức thời của máy phát định hòa là:

Điều kiện hòa yêu cầu:
- Điện áp máy phát bằng điện áp lưới.
- Tần số máy phát bằng tần số lưới.
- Thứ tự pha của máy phát trùng thứ tự pha của lưới.
- Pha của điện áp máy phát trùng với pha của điện áp lưới.
Thông thường các máy phát được lắp đặt và thử nghiệm ở nhà máy nên điều kiện thứ tự pha luôn thỏa mãn, điện áp và tần số của máy phát và lưới được quan sát trên các đồng hồ. Điều kiện về góc pha trùng nhau là điều kiện cần thiết phải xác định thông qua các phương pháp hòa đồng bộ.
4.3.3;Các phương pháp hòa đồng bộ các máy phát xoay chiều.
Có nhiều phương pháp hòa đồng bộ sau đây ta nghiên cứu một số phương pháp thông dụng:
4.3.3.1, Phương pháp hòa đồng bộ thô:
Hòa đồng bộ thô là phương pháp hòa đồng bộ các máy phát khi các điều kiện hòa chưa hòan tòa thỏa mãn. Khi đó sẽ xuất hiện dòng cân bằng chạy qua các máy phát, để hạn chế dòng điện cân bằng khi đóng máy phát vào lưới, người ta sử dụng cuộn kháng nối máy phát qua lưới điện. Khi tần số điện áp máy phát gần bằng tần số định mức thì đóng máy phát vào lưới qua cuận kháng. Sau khi dòng cân bằng giảm và máy đã được kéo vào đồng bộ thì ngắt cuận kháng ra và đóng trực tiếp máy phát lên lưới. Phương pháp này xuất hiện dòng cân bằng nên xảy ra hiện tượng công suất ngược cho nên không thể dùng trên tàu thủy được vì lưới điện tàu thủy là lưới mền nên phải trang bị thiết bị bảo vệ công suất ngược khi đó sẽ họat động và ngắt máy phát khỏi lưới.
4.3.3.2, Phương pháp tự đồng bộ:
Tự hòa đồng bộ là phương pháp đóng máy phát vào lưới khi chưa kích từ cho máy phát khi đó máy họat động như là động cơ không đồng bộ; sau đó tăng dần kích từ cho máy ban đầu máy họat động như động cơ đồng bộ, nếu cứ tiếp tục tăng kích từ cho đến khi máy trở thành máy phát thì quá trình hòa đồng bộ kết thúc. Phương pháp này cũng xuất hiện dòng cân bằng nên xảy ra hiện tượng công suất ngược cho nên cũng không thể dùng trên tàu thủy được.
4.3.3.3, Phương pháp hòa đồng bộ chính xác:
Hòa đồng bộ chính xác là phương pháp hòa đồng bộ mà tất cả các điều kiện hòa đều được thỏa mãn. Để kiểm tra điều kiện hòa về góc pha trùng nhau và tần số người ta sử dụng các phương pháp như: phương pháp kiểm tra bằng đèn tắt, đèn kiểm tra bằng quay, phương pháp kiểm tra bằng đồng bộ kế.
- Phương pháp hòa đồng bộ chính xác kiểm tra bằng đèn tắt:
Quan sát cường độ sáng và tốc độ sáng tối của đèn ta nhận thấy rằng hai đèn cùng sáng tối và tần số chênh lệnh càng nhiều thì tốc độ sáng - tối của các đèn càng cao. Góc pha đầu chênh lệch càng nhiều thì đèn càng sáng. Thời điểm đóng máy phát vào lưới khi tốc độ sáng tối của các đèn chậm và các đèn gần tắt hẳn nhưng do quán tính và độ trễ của con người và thiết bị cho nên phải đóng trước thời điểm đèn tắt một khỏang thời gian bằng thời gian trễ của con người và thiết bị..
- Phương pháp hòa đồng bộ chính xác kiểm tra bằng đèn quay:
Hình 4.15 mô tả sơ đồ đấu đèn và giản đồ vector của phương pháp đèn quay.
Phương pháp đèn quay có ưu điểm hơn phương pháp đèn tắt là giúp ta xác định được tần số của máy phát lớn hơn hay nhỏ hơn tần số lưới dựa vào chiều quay của đèn. Khi đèn quay thuận chiều kim đồng hồ thì tần số máy phát lớn hơn tần số lưới và ngược lại. Thời điểm đóng máy phát vào lưới khi đèn quay thuận chiều kim đồng hồ và hai đèn bên sáng cực đại còn đèn chủ giữa tắt và cũng phải tính tới thời gian trễ của con người và thiết bị.
(đèn quay thuận chiều kiêm đồng hồ tức tần số máy phát nhanh hơn tần số lưới khi đóng máy phát vào thì máy phát sẽ nhân ngay một ít tải của lưới an toàn hơn trường hợp ngược lại khi tần số máy phát nhỏ hơn tần số lưới lúc đó máy phát sẽ nhận năng lương của lưới để kéo máy phát lên bằng tốc độ của lưới. Tức máy phát làm việc ở chế độ động cơ dễ gây quá tải cho lưới)
- Phương pháp hòa đồng bộ chính xác kiểm tra bằng đồng bộ kế:

Đồng bộ kế thực chất là một máy điện đặc biệt có sơ đồ nguyên lý như hình vẽ. Stator có cuộn dây 2 pha được nối với lưới, rotor có 2 cuộn dây 2 pha nối với máy phát. Trục rotor được gắn một kim chỉ thị. Tần số giữa điện áp máy phát và điện áp lưới chênh lệch càng lớn thì kim đồng bộ kế quay càng nhanh.
Khi tần số của điện áp máy phát lớn hơn tần số của điện áp lưới, f1 > f2 , thì kim đồng bộ kế quay thuận chiều kim đồng hồ và ngược lại. Khi kim đồng bộ kế qua điểm 0 chỉ thị thì góc pha đầu của điện áp máy phát và điện áp lưới bằng nhau. Do đó thời điểm đóng máy phát vào lưới khi kim đồng bộ kế quay chậm theo chiều kim đồng hồ và sắp qua điểm 0 chỉ thị.
4.3.3.4, Phương pháp tự động hòa đồng bộ:
Hình 4.17 mô tả sơ đồ khối hệ thống hòa đồng bộ tự động:

Quá trình hòa xảy ra hoàn toàn tự động. Người vận hành chỉ cần chuyển công tắc chọn máy phát cần hòa (Generator Selector), chuyển công tắc chọn chế độ hòa (Mode Selector) từ "tay" (Man) sang "tự động" (Auto).
Thiết bị hòa tự động sẽ tự động thực hiện các chức năng:
- Kiểm tra điện áp các máy phát, điều chỉnh cân bằng các điện áp nếu cần thiết.
- Kiểm tra tần số, điều chỉnh cân bằng tần số nếu cần thiết.
- Chọn thời điểm hòa và đóng máy phát vào lưới.
Vì các thiết bị hòa được thiết kế làm việc ở chế độ ngắn hạn, cho nên khi máy phát cần hòa được hòa thành công thì thiết bị hòa phải được ngắt ra. Tổng phụ tải trên thanh cái bây giờ được chia đều cho các máy phát khi các máy công tác song song hoặc chuyển tất cả sang máy phát mới nếu đổi máy phát. Khi hoạt động song song, bộ điều tốc sẽ điều khiển trực tiếp công suất tác dụng (kW) còn bộ AVR sẽ điều khiển công suất phản tác dụng (kVAr) hoặc cos .
4.3.4;Các thao tác đóng và ngắt máy phát xoay chiều với lưới điện.
4.3.4.1, Thao tác đóng máy phát xoay chiều với lưới điện:
Để đóng máy phát xoay chiều lên lưới điện ta làm theo trình tự sau:
- Khởi động diesel và điều chỉnh tốc độ diesel tời tốc độ định mức (kiểm tra tần số bằng cách quan sát các đồng hồ tần số).
- Kiểm tra điện áp máy phát bằng cách kiểm tra các đồng hồ điện áp.
- Thực hiện việc hòa đồng bộ các máy phát khi thời điểm hòa thỏa mãn thì đóng aptomat nối máy phát với lưới điện.
- Thực hiện phân chia tải giữa các máy phát bao gồm:
+ Phân chia tải tác dụng bằng cách tăng lượng dầu vào máy mời hòa đồng thời giảm lượng dầu vào máy đang làm việc quan sát các đồng hồ để điều chỉnh sao cho tần số trạm là không đổi. Quá trình phân chia tải kết thúc khi công suất của các máy tương ứng như nhau trên các đồng hồ chỉ công suất của máy phát.
+ Phân chia tải phản tác dụng bằng cách tăng điều chỉnh kích từ của các máy phát quan sát các đồng hồ dòbg để điều chỉnh sao cho dòng điện của các máy tương ứng như nhau trên các đồng hồ chỉ dòng của máy phát thì quá trình phân chia tải phản tác dụng kết thúc.
4.3.4.2, Thao tác ngắt máy phát xoay chiều khỏi lưới điện:
Để ngắt máy phát xoay chiều khỏi lưới điện ta làm theo trình tự sau:
- Thực hiện việc chuyển tải tác dụng từ máy phát chuẩn bị ngắt sang các máy còn làm việc bằng cách giảm lượng dầu vào máy sẽ ngắt đồng thời tăng lượng dầu vào máy đang làm việc quan sát các đồng hồ công suất và tần số để điều chỉnh sao cho tần số trạm là không đổi. Quá trình chuyển tải kết thúc khi công suất của máy sẽ ngắt bàng 0.
- Ngắt mát phát khỏi lưới điện bằng cách ngắt aptomat máy phát.
- Giảm tốc độ diesel đến tốc độ min.
- Kiểm tra các thông số của diesel nếu đảm bảo thì dừng máy.
Comment
There are no comments made yet.
  1. more than a month ago
  2. Vận hành & Bảo dưỡng
  3. # 1
ngo nguyên Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
Cảm ơm tl của anh truonggiang24 nha,em đã được học rồi .Theo em biết thì khi mà ngắt máy phát k hòa nữa thì mình cần pải giảm lượng dầu cấp vào máy phát 1 và tăng lượng dầu vào máy phát 2 ,khi đó 2 máy phát sẽ không cùng tần số ngĩa là mình làm mất đi một điều kiện hòa là được anh nhỉ? còn nếu muốn hòa thì làm thao tác ngược lại thôi !
Comment
There are no comments made yet.
  1. more than a month ago
  2. Vận hành & Bảo dưỡng
  3. # 2
nhiep phong Accepted Answer Pending Moderation
0
Votes
Undo
mình nghĩ là tăng lượng dầu vào máy phát này và giảm lượng dầu vào máy phát kia không phải để hai máy không cùng tần số nữa đâu, nó vẫn cùng tần số đấy. mình làm hành động đó là để ra tải máy phát mà mình không cần nó làm việc trong lưới nữa và tắt nó đi thôi
Comment
There are no comments made yet.
  1. more than a month ago
  2. Vận hành & Bảo dưỡng
  3. # 3
  • Page :
  • 1


There are no replies made for this post yet.
However, you are not allowed to reply to this post.